Phục sinh
Sermon • Submitted • Presented
0 ratings
· 1 viewNotes
Transcript
Đức tin về sự phục sinh dẫn chúng ta rời khỏi bóng tối để bước vào sự sống
Lời chào
Lời chào
Chúa Giê-su đã phục sinh.
Chúa Giê-su thật sự đã phục sinh. A-men.
Trong lịch sử Cơ Đốc giáo, từ Hội Thánh đầu tiên cho đến thời hiện đại,
một trong những chủ đề luôn được tranh luận sôi nổi nhất chính là sự phục sinh.
Sự phục sinh của Chúa Giê-su là trọng tâm của đức tin Cơ Đốc.
Anh chị em tin rằng Chúa Giê-su đã phục sinh, đúng không?
Nhưng không phải ai cũng tin điều đó.
Ngay cả Thô-ma, một trong các môn đồ của Chúa Giê-su, cũng đã như vậy.
Thô-ma nói: “Nếu chính tôi không nhìn thấy dấu đinh nơi tay Ngài,
không đặt ngón tay mình vào dấu đinh ấy,
và không đặt tay mình vào cạnh sườn bị đâm của Ngài, thì tôi sẽ không tin.”
Vì thế cho đến ngày nay, xoay quanh việc sự phục sinh của Chúa Giê-su là thật hay không, những người phản bác vẫn đưa ra nhiều giả thuyết để công kích.
Có người nói đến thuyết bị đánh cắp xác.
Họ cho rằng Chúa Giê-su không thật sự sống lại, nhưng các môn đồ đã lén lấy trộm thi thể Ngài, giấu đi, rồi tuyên bố rằng Ngài đã phục sinh.
Có người nói đến thuyết ngất xỉu.
Họ cho rằng Chúa Giê-su không chết, mà chỉ ngất đi trên thập tự giá, rồi tỉnh lại trong ngôi mộ đá mát lạnh.
Cũng có thuyết nhầm lẫn.
Cho rằng các phụ nữ đã nhầm lẫn, đi đến mộ của người khác rồi tuyên bố Chúa đã sống lại.
Lại có người nói đến thuyết ảo giác.
Họ cho rằng vì các môn đồ quá nhớ thương Chúa Giê-su nên đã thấy Ngài trong ảo giác, rồi nói rằng Ngài đã phục sinh.
# Rốt cuộc tất cả những lập luận đó đang hướng đến điều gì?
Chỉ có một điều thôi:
Đó là nỗ lực để khẳng định rằng sự phục sinh của Chúa Giê-su không phải là một sự kiện có thật trong lịch sử.
Vì thế trong lòng tôi luôn có một chút tiếc nuối.
Tôi nghĩ rằng:
“Lạy Chúa, xin đừng làm khó như vậy. Giá mà Ngài làm rõ ràng hơn một chút thì tiện biết bao!”
Ví dụ như báo trước:
“Vào ngày này, giờ này, tại địa điểm này, hãy tập trung lại! Khi đó sẽ có một việc kỳ diệu xảy ra.” Rồi tập hợp mọi người lại, sau đó ngôi mộ nổ tung, Chúa Giê-su hiện ra giữa làn khói trắng, nhạc vang lên, Chúa mặc áo trắng và đứng dậy.
Rồi phỏng vấn từng người chứng kiến xem:
“Anh nghĩ sao về chuyện vừa thấy?”
Sau đó lưu lại thành văn bản, chẳng hạn:
“Hôm đó, mẹ của Gia-cơ đã nói thế này: ‘Tôi đã rất kinh ngạc.’”
Nếu được như vậy thì thật tốt biết bao, nhưng lại không có một ghi chép nào như thế cả.
Điều còn lại duy nhất chỉ là Kinh Thánh.
* Mà trong Kinh Thánh, cũng không ghi lại chính khoảnh khắc Chúa sống lại,
chỉ có những phác họa sau khi Ngài đã phục sinh mà thôi.
Người ta bước vào thì Chúa đã không còn ở đó nữa,
khăn quấn đầu được xếp riêng sang một bên,
vải liệm vẫn còn nguyên.
Chỉ có những câu chuyện như thế mà thôi.
1. “Gặp gỡ Chúa phục sinh” – cuộc đời được thay đổi và đó là bằng chứng rõ ràng nhất của sự phục sinh
1. “Gặp gỡ Chúa phục sinh” – cuộc đời được thay đổi và đó là bằng chứng rõ ràng nhất của sự phục sinh
tôi đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi này.
Đó là câu hỏi:
“Tại sao Đức Chúa Trời không ghi hình hay ghi chép lại khoảnh khắc lịch sử khi Chúa Giê-su phục sinh?”
Câu trả lời là:
Đức Chúa Trời dường như không quá chú trọng
đến việc công bố chính khoảnh khắc ấy,
tức là việc “người chết sống lại”.
Nếu Ngài thật sự muốn nhấn mạnh điểm đó, hẳn Ngài đã chuẩn bị rất kỹ.
Nhưng Đức Chúa Trời đã hoàn toàn không làm như vậy.
Bởi vì có một điều còn quan trọng hơn.
Ngài không mô tả tỉ mỉ chính khoảnh khắc phục sinh.
Điều quan trọng hơn trong câu chuyện phục sinh chính là sau sự phục sinh đó.
Là những gì xảy ra tiếp theo sau biến cố phục sinh.
Quan trọng không phải chỉ là sự thật rằng một người chết đã sống lại,
nhưng là:
Những con người đã gặp Đấng từ cõi chết sống lại ấy
đã bắt đầu thay đổi như thế nào từ sau đó.
Câu chuyện ấy mới quan trọng hơn.
Vì không có bằng chứng nào chắc chắn hơn điều đó.
bằng chứng quan trọng nhất khiến chúng ta không thể không tin vào sự phục sinh là gì?
Đó chính là cuộc đời được thay đổi của các môn đồ.
Hãy nhìn Phi-e-rơ.
Nếu không có sự phục sinh, làm sao một Phi-e-rơ đã ba lần chối không biết Chúa Giê-su,
lại có thể bị đóng đinh ngược mà chết vì Ngài?
Hãy nhìn Tô-ma.
Nếu không thật sự gặp Chúa phục sinh,
làm sao một người từng nói phải tự tay chạm vào vết thương của Chúa mới tin,
lại có thể đi đến tận Ấn Độ để truyền giảng tin mừng phục sinh,
thậm chí hy sinh mạng sống mình vì Phúc Âm?
Hãy nhìn Gia-cơ.
Nếu không gặp Chúa phục sinh,
làm sao người em từng lo rằng Chúa Giê-su có vấn đề về tinh thần
lại có thể tận hiến để trở thành lãnh đạo của Hội Thánh Giê-ru-sa-lem?
Hãy nhìn Phao-lô.
Đặc biệt, sự thay đổi của sứ đồ Phao-lô còn kịch tính hơn nữa.
Qua cuộc gặp gỡ với Chúa phục sinh, ông đã sống một cuộc đời hoàn toàn mới.
Và trong 1 Cô-rinh-tô 15:10, ông đã xưng nhận như thế này:
“Nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời mà tôi là người như ngày nay,
và ân điển Ngài ban cho tôi đã không trở nên vô ích.
Trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả các sứ đồ khác,
song không phải tôi, nhưng là ân điển của Đức Chúa Trời ở cùng tôi.”
Đúng vậy.
Không có điều gì trở thành bằng chứng cho sự phục sinh rõ hơn cuộc đời được thay đổi của các môn đồ.
Sau khi gặp Chúa Giê-su phục sinh, họ đã thay đổi,
và nếu không có sự phục sinh thì không thể giải thích được sự thay đổi đó.
Nhưng còn một sự thật quan trọng hơn nữa.
Điều này không chỉ được thấy nơi riêng các môn đồ của Chúa Giê-su,
mà cho đến bây giờ nó vẫn đang tiếp tục.
Đây không phải là một câu chuyện bị đứt đoạn, mà là một câu chuyện tiếp diễn.
Sau khoảnh khắc của sự chết, những môn đồ gặp Chúa sống lại đã thay đổi.
Rồi đến những người khác lại thay đổi. Sự thay đổi ấy cứ tiếp tục mãi.
Vì thế, trước và sau sự phục sinh của Chúa Giê-su Christ là hai thời đại hoàn toàn khác nhau.
Những điều kỳ diệu mà con người trước phục sinh không thể trải nghiệm,
đã bắt đầu xuất hiện giữa những người gặp Chúa phục sinh sau biến cố ấy.
Điều đó mới thật sự quan trọng hơn.
Và sự biến đổi trong đời sống của những con người va chạm với sự phục sinh ấy đã đi đến đâu?
Đi đến tận chúng ta của giây phút hiện tại này.
Chính vì vậy mà điều đó quan trọng.
Bởi vì Ngài vẫn còn sống cho đến hôm nay.
Sau khi phá tung cửa mộ và phục sinh, không hề có tin tức nào nói rằng Ngài đã chết lại một lần nữa.
Vì vậy, câu chuyện phục sinh không được kết thúc chỉ như một câu chuyện kỳ diệu đã xảy ra ngày xưa.
Không thể chỉ dừng ở chỗ:
“Ngày xưa đã có một chuyện thật phi thường xảy ra.”
Ngược lại, chúng ta phải ghi nhớ đó là
câu chuyện về sự phục sinh đã làm đảo ngược lịch sử,
là câu chuyện về những cuộc đời đã trải nghiệm sự biến đổi kỳ diệu qua sự phục sinh ấy,
là câu chuyện vẫn đang tiếp diễn cho đến bây giờ,
và là câu chuyện về cuộc gặp gỡ
mà anh chị em và tôi tuyệt đối không được bỏ lỡ.
Đức Chúa Trời biết rõ điều đó.
Ngài biết rằng sự phục sinh không chỉ đến với con người
như một biến cố kỳ lạ xảy ra từ trong sự chết,
nhưng sẽ dần dần lan rộng ra qua cuộc gặp gỡ với Chúa phục sinh
và qua sự thay đổi trong đời sống con người.
Vậy cho đến giờ chúng ta đang nói điều gì?
Đó là: khi gặp Chúa phục sinh, đời sống sẽ xuất hiện sự thay đổi.
Khi gặp Chúa phục sinh, đời sống sẽ thay đổi.
Vậy thì sự thay đổi ấy là gì?
Cuộc đời thay đổi như thế nào mà người ta nói rằng khi gặp Chúa phục sinh thì sẽ được đổi mới?
Chính điểm này mới thật sự quan trọng.
Đó là: thay đổi như thế nào?
Vì thế khi đọc Kinh Thánh,
chúng ta thấy tuy không có mô tả về chính cảnh Chúa phục sinh,
nhưng những ghi chép về việc Chúa ở lại đất này 40 ngày sau khi phục sinh và gặp các môn đồ đến tám lần thì lại được ghi lại rất phong phú, rất đầy đủ.
Tại sao điều đó quan trọng?
Bởi vì tất cả những câu chuyện đã xảy ra khi Ngài gặp họ
chính là câu chuyện của chúng ta.
2. Phục sinh là “quyền năng ban cho bình an”
2. Phục sinh là “quyền năng ban cho bình an”
Trong số đó, phân đoạn hôm nay là cảnh Chúa gặp mười môn đồ lần đầu tiên.
Chúng ta cùng đọc câu 19–20:
19. Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, khi các môn đồ đang ở trong nhà,
các cửa đều đóng kín vì sợ người Do Thái,
Đức Chúa Giê-su đến đứng giữa họ và phán: “Bình an cho các con!”
20. Nói xong, Ngài chỉ cho họ xem tay và cạnh sườn mình.
Các môn đồ vui mừng khi thấy Chúa.
— —— —-
Các môn đồ đã chối Chúa. Tất cả đều phản bội Ngài.
Rồi họ bỏ chạy. Rồi đóng kín cửa lại.
Trong đoạn Kinh Thánh có nói rằng họ đóng cửa vì sợ người Do Thái,
nhưng thật sự có phải họ chỉ sợ người Do Thái không?
Có lẽ điều họ thật sự sợ là chính bản thân mình.
Điều họ thật sự không muốn nhìn thấy không phải là người Do Thái,
mà là chính nội tâm của mình.
Một nội tâm hèn nhát, phản bội và thất bại!
Chỉ thế thôi sao?
Ba năm qua họ đã theo một điều gì đó, vậy mà bây giờ tất cả đã chấm dứt.
Không phương hướng! Không ý nghĩa! Hư không! Tuyệt vọng!
————
Trong tình trạng đóng kín cánh cửa tâm hồn như vậy,
câu chuyện Chúa đã đến tìm và gặp họ
là câu chuyện vô cùng quan trọng đối với chúng ta.
Một trong những điều chúng ta có thể thấy qua cảnh này là:
Sự phục sinh của Chúa là quyền năng ban bình an cho tất cả những ai gặp Ngài.
Điều chúng ta phải xác nhận rõ ràng là thế này:
Sự phục sinh của Chúa là quyền năng ban bình an cho mọi người chạm đến sự phục sinh ấy.
Chúa phục sinh là bình an.
Ngài là Shalom.
——
Nếu có một cảm xúc rõ ràng còn lại trong cuộc đời của người đã gặp Chúa phục sinh,
thì đó là bình an.
Đó chính là bản chất của sự phục sinh.
Dĩ nhiên, không thể chia tách hoàn toàn chính xác,
nhưng nếu phải chia đời sống con người thành hai loại,
tôi nghĩ có thể chia như thế này:
“Một cuộc đời đang chết đi” và “một cuộc đời đang sống lại.”
Nếu bảo người ta vẽ đồ thị cuộc đời mình,
họ sẽ vẽ những đoạn lúc lên lúc xuống.
Vậy lúc đi xuống là gì?
Đó chính là một cuộc đời đang chết đi.
Còn lúc đi lên là gì?
Đó chính là một cuộc đời đang sống lại.
Vì vậy nếu chia đời sống thành hai loại,
ta có thể nói là:
“cuộc đời đang chết đi” và “cuộc đời đang sống lại.”
Vậy cuộc đời đang chết đi có thể diễn tả là gì?
Đó là một cuộc đời bị sự chết thống trị.
Không còn hy vọng nào cho cuộc sống.
Chỉ còn bóng tối của tuyệt vọng và sự chết.
Đó chính là cuộc đời đang chết đi.
Thật ra những điều đó đến từ đâu?
Đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
thất bại trong công việc,
mất đi người mình yêu,
bị phản bội trong các mối quan hệ,
quan hệ tan vỡ,
thân thể đau yếu,
và nhiều nguyên nhân khác nữa.
Nguyên nhân có thể rất nhiều,
nhưng một khi những điều ấy ập đến và biến đời sống thành “một đời sống đang chết dần”,
thì kết luận chỉ có một:
Đó là con người ấy đang chết dần đi.
—————
Vậy còn một cuộc đời đang sống lại là gì?
Đó là một cuộc đời được sự sống cai trị.
Rốt cuộc ở đó có Shalom.
Có niềm vui.
Có thể chia như vậy.
Chúng ta có thể dùng nhiều tiêu chí để đo lường cuộc đời,
nhưng nếu có một từ thật sự tốt để đánh giá chất lượng cuộc sống,
tôi nghĩ đó là từ “bình an.”
Một cuộc đời có bao nhiêu bình an
thì điều đó quyết định chất lượng của cuộc đời ấy.
Phong cách sống của mỗi người đều khác nhau.
Nhưng rốt cuộc điều đánh giá một cuộc đời là gì?
Là trong cuộc đời ấy có bao nhiêu bình an.
Từ “bình an” là một từ vô cùng quan trọng để quyết định chất lượng sống.
Tôi nghĩ thế này:
Khi một người cảm thấy bình an trong sự thỏa lòng,
nếu có một chiếc máy ảnh chụp được sự sống mà bấm “tách” một cái,
thì có lẽ lúc sức sống tràn đầy nhất trong toàn thân
chính là lúc người đó đang bình an.
Khi năng lực sự sống trong tâm hồn đầy tràn,
con người cảm thấy bình an nhất.
Tại sao?
Vì mọi lo lắng và sợ hãi đều bỏ chạy.
Nhưng có một vấn đề.
Đó là con người thường cố tìm sự bình an, sự sống ấy từ bên ngoài.
Họ cố lấy một thứ gì đó từ bên ngoài,
rồi đưa nó vào trong mình để có được bình an.
Vì cơn đói chẳng phải là biểu hiện của sự chết sao?
Thế nên người ta cố tìm kiếm bằng cách “lấp đầy” từ bên ngoài.
Mà đáng lẽ nếu cách đó chưa từng thành công thì còn đỡ,
đằng này đôi khi nó lại có vẻ thành công.
Khi chạm được vào tiền bạc,
người ta có thể thoáng cảm nhận được một chút bình an.
Tối hôm đó, người ấy có thể giống như người phú hộ dại dột mà nói:
“Hồn ta ơi, hãy nghỉ ngơi yên ổn!”
Nhưng sáng hôm sau thức dậy lại thấy bất an.
Vì vậy trong lòng hình thành một ký ức:
“Mình đã từng có bình an, nhưng vì để mất rồi,
nếu mình cố hơn theo cách lần trước,
thì có lẽ sẽ đạt được một sự bình an lớn hơn,
một sự bình an không lay chuyển chăng?”
Và người ta bắt đầu sống trong sự ngộ nhận ấy.
Rồi càng cố nắm bắt hơn nữa.
Cứ thế lại phải lấy thêm.
Lại phải lấy thêm nữa.
Cứ phải tiếp tục lấy thêm mãi.
Cho nên khi tôi nhìn những người đi lang thang từ sáng đến tối chỉ vì lòng tham muốn có được thứ bình an đó,
tôi có cảm giác như đang nhìn thấy ma cà rồng vậy.
Anh chị em biết ma cà rồng chứ?
Chúng phải liên tục hút máu tươi. Máu cũ thì không được.
Phải liên tục hút máu tươi mới sống qua được một đêm.
Cũng vậy, nếu sự sống không được sản sinh từ bên trong,
thì dù có nhét bao nhiêu thứ từ bên ngoài vào,
đó vẫn chỉ là một cuộc đời giống như ma cà rồng.
Đúng vậy.
Nếu sự sống không xuất hiện từ bên trong,
mà cứ muốn lấy cái gì đó từ bên ngoài để lấp đầy,
thì đó là một cuộc đời kiểu ma cà rồng.
Cuộc đời như thế bao giờ mới kết thúc được?
Nếu không có sức sống tuôn trào từ bên trong,
thì sẽ không bao giờ có bình an thật trong cuộc sống.
Con người không thể có được bình an tối hậu chỉ nhờ điều kiện sống —
điều đó đã là kết luận rồi.
Không thể có được bình an tối hậu chỉ bằng hoàn cảnh.
Điều đó đã được kết luận xong từ lâu.
———————
Cho nên trong số những triết gia nghiên cứu sâu về đời sống,
đặc biệt là các triết gia hiện sinh, có người đã nói thế này:
“Điều chúng ta thật sự cần là một trải nghiệm tối thượng.”
Nghĩa là con người cần một kinh nghiệm vượt lên trên hoàn cảnh.
Nếu không có trải nghiệm vượt trên hoàn cảnh,
thì chỉ bằng hoàn cảnh thôi là không thể giải quyết vấn đề hiện sinh.
Vì vậy họ nói:
“Cần một trải nghiệm tối thượng.”
Dù hoàn cảnh vẫn y nguyên,
nhưng nếu bởi một sự bình an dâng lên từ bên trong,
nếu bởi một điều gì đó dâng lên từ nội tâm,
mà con người vẫn có thể vui mừng không phụ thuộc hoàn cảnh,
thì đó mới là điều tối hậu con người cần có.
Nhưng anh chị em biết họ kết luận thế nào không?
“Họ không biết đó là gì!”
“Cũng không biết làm sao để biết được điều đó!”
Rồi kết thúc ở đó.
—————
Nhưng khi chuẩn bị Lời Chúa, tôi đã nhận ra:
Trải nghiệm tối thượng ấy là gì?
Đó là trải nghiệm gặp gỡ Chúa phục sinh!
Khi gặp Chúa phục sinh,
một sự bình an vượt lên trên hoàn cảnh sẽ bắt đầu xuất hiện trong lòng chúng ta,
và sự sống sẽ tuôn trào từ trong nội tâm như suối nguồn.
Trong Kinh Thánh có một điều rất thú vị.
Khi nhìn vào những việc Chúa phục sinh đã làm trong 40 ngày ấy,
có hai điều rất rõ rệt.
Một là, cứ mở miệng ra là Ngài chào bằng chữ “Shalom.”
Trước đó Chúa có nhiều lời nói và lời chào khác nhau,
nhưng sau phục sinh, hễ gặp là “Shalom.”
Trong Ma-thi-ơ 28, khi Ma-ri Ma-đơ-len và người Ma-ri kia chạy đi sau khi thấy mộ trống và nghe thiên sứ báo:
“Chúa đã sống lại, hãy đi nói cho các môn đồ biết,”
thì Chúa Giê-su hiện ra và lời chào đầu tiên Ngài phán là:
“Shalom!”
Và hãy nhìn đoạn Kinh Thánh hôm nay.
Ngài hiện ra với mười môn đồ, trừ Tô-ma, những người đang run sợ,
và nói tới hai lần:
“Bình an cho các ngươi.”
“Peace be with you.”
Ngài dùng cùng một lời đó đến hai lần.
Sau khi phục sinh, Chúa của chúng ta cứ như thể chỉ còn một lời chào duy nhất,
hễ gặp là chào bằng “Shalom.”
Điều đó có nghĩa là gì?
Nghĩa là:
“Bản chất của sự phục sinh nằm ở sự bình an.”
Khi gặp Chúa phục sinh,
bình an bắt đầu tuôn lên từ bên trong con người.
————
Còn một điều nữa.
Không biết có phải vì đã ở trong mộ ba ngày không,
nhưng sau khi phục sinh, Chúa có vẻ rất thích chuyện ăn uống.
Hễ đi đâu là lại nhắc đến chuyện ăn.
Ngài hiện ra lúc ăn,
và lại còn cho người khác ăn nữa.
Trong Lu-ca 24:30, với hai môn đồ trên đường Em-ma-út cũng vậy.
Ngài không dùng một cách nào khác để tỏ mình ra cách rõ ràng,
nhưng lại bẻ bánh trao cho họ.
Có thể thấy Chúa chú trọng đến việc ban cho ăn, hơn là chính Ngài ăn.
Một câu chuyện còn rõ hơn nữa là Giăng 21:9.
Lần đó Chúa thậm chí còn tự nấu ăn.
Khi các môn đồ đang ở trên biển,
Chúa đã nhóm than lửa, chuẩn bị đồ ăn và nói:
“Nếu có cá thì đem đến đây. Chúng ta nướng đi!”
Ngài bắt đầu làm tiệc nướng.
Và không chỉ nấu ăn xong là thôi,
Ngài còn phục vụ nữa.
“Hãy đến ăn sáng đi.”
Chúng ta có thể thấy Chúa cực kỳ quan tâm đến việc cho người khác ăn.
—————
Điều đó có nghĩa là gì?
Chúa nhìn thấy bản chất của bóng sự chết trong lòng con người.
Đó chính là sự thiếu thốn.
Vì đói nên người ta cảm thấy hư không.
Vì đói nên người ta bất an.
Vì sợ sẽ đói nên người ta nản lòng.
Khi phải đối diện với sự thiếu hụt, người ta rơi vào tuyệt vọng.
Vì thế Chúa cứ đơn giản cho họ ăn.
Không nói nhiều, chỉ phán: “Hãy ăn đi.”
Và qua đó, Ngài làm cho họ được đầy đủ.
Nhưng đó có phải là bánh thuộc thể không?
Có phải là bánh của thế gian không?
Không.
Đó là bánh sự sống.
————
Ai ăn bánh này, uống nước này
sẽ không bao giờ còn đói khát nữa.
Đó chính là bánh của sự sống.
Đó là nguồn suối tuôn trào từ bên trong.
Và vì vậy bình an xuất hiện trong đời sống ấy.
Thưa anh chị em, ngay cả bây giờ tôi vẫn có thể mạnh dạn tuyên bố điều này:
Ngay trong giây phút này, nếu chúng ta gặp Chúa phục sinh,
mọi gánh nặng, lo âu và thất vọng trong đời sống chúng ta sẽ chạy biến đi,
và bình an sẽ không đến từ bên ngoài —
mà từ bên trong —
sức sống từ bên trong, niềm vui từ bên trong,
sẽ tuôn lên như dòng suối.
Tôi có thể công bố điều này một cách rõ ràng và đầy tự tin.
3. Bình an đến từ quyền năng phục sinh là “sự sống”,
nên tuyệt đối không bao giờ đứng yên
3. Bình an đến từ quyền năng phục sinh là “sự sống”,
nên tuyệt đối không bao giờ đứng yên
Khi con người nhận được bình an qua cuộc gặp gỡ với Chúa phục sinh,
thì sau đó bình an ấy bắt đầu tràn ra từ bên trong.
Nó không nằm yên.
Nó bắt đầu tuôn trào ra,
và trở thành năng lực thật sự để chiến thắng thế gian này.
Chúng ta cùng đọc câu 21–23:
21. Đức Chúa Giê-su lại phán với họ rằng: “Bình an cho các con!
Như Cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các con thể ấy.”
22. Nói xong, Ngài hà hơi trên họ và phán: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.
23. Nếu các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha;
còn nếu các con cầm giữ tội ai, thì tội người ấy bị cầm giữ.”
Câu 21 cho thấy sau khi nói về bình an,
Chúa bắt đầu nói đến chuyện sai phái.
“Bình an cho các ngươi!”
Rồi ngay sau đó Ngài nói:
“Như Cha đã sai Ta,
thì Ta cũng sai các ngươi.”
Rồi sau khi nói về việc sai phái, ở câu 23 Ngài lại nói thêm một điều rất đáng kinh ngạc.
Đó là gì?
Đó là quyền năng tha tội.
“Các ngươi sẽ có quyền tha tội.
Các ngươi tha tội cho ai thì người đó được tha;
còn giữ lại thì vẫn còn.”
Đây là một lời vô cùng lớn lao.
Lời này có nghĩa là gì?
Nó có nghĩa là:
Sự bình an ở trong các ngươi sẽ bắt đầu gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến xung quanh.
Nó tuyệt đối không thể chỉ dừng lại ở bên trong.
Ý là như vậy.
Thưa anh chị em, có một thứ bình an đầy sự bất lực.
Bình an do đầu hàng,
bình an do thỏa hiệp,
kiểu như:
“Thôi cứ để vậy đi, cứ sống thế này rồi chết cũng được.”
Có kiểu bình an như thế.
Nhưng đó thật ra không phải là bình an.
Đó là sự buông xuôi. Là sự tuyệt vọng.
Trong đó không có chút năng lực sự sống nào.
Nhưng bình an có được khi gặp Chúa phục sinh thì khác.
Đó là bình an được nâng đỡ bởi sự sống.
Mà bình an được nâng đỡ bởi sự sống
thì tuyệt đối không thể chỉ đứng yên trong lòng.
Vì bản chất của sự sống là gì?
Là sinh sôi, là lan rộng.
Bình an thật
sẽ kéo những người đang bị hành hạ bởi sự chết ở bên cạnh mình trở lại.
Nó sẽ chạm đến người đang ở trong sự chết.
Và rồi một năng lực chinh phục lớn lao bắt đầu xuất hiện,
làm cho mọi người trở nên có bình an.
Đó chính là bản chất của bình an đặt trên nền tảng sự sống.
Vì vậy Chúa mới phán như thế này:
“Làm sao điều đó có thể xảy ra?”
Câu trả lời nằm ở câu 22 hôm nay:
“Ngài hà hơi trên họ và phán: Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.”
Trải nghiệm gặp Chúa chính là trải nghiệm về Đức Thánh Linh!
Và trải nghiệm về Đức Thánh Linh ấy
chính là trải nghiệm được đầy dẫy Thần của Chúa Giê-su Christ ở bên trong!
Kết luận chẳng phải vẫn là một sao?
Dù là gặp Chúa phục sinh, hay trải nghiệm Đức Thánh Linh,
hay hoàn toàn tiếp nhận Chúa Giê-su Christ làm Chúa của đời mình,
thì điều xuất hiện trong đời sống con người là gì?
Chẳng phải là bình an sao?
Chẳng phải là vui mừng sao?
Thật ra tất cả là một.
Vì vậy quyền năng ấy bắt đầu vận hành từ bên trong.
Có những lúc chúng ta ở trong tuyệt vọng, trong xung đột.
Nhưng rồi tôi gặp được Chúa phục sinh.
Ngay giây phút đó, Chúa phục sinh bước vào trong tôi bằng sự đầy dẫy Đức Thánh Linh,
bằng sự đầy dẫy Thần của Chúa Giê-su Christ.
Ngay khoảnh khắc ấy,
mọi vấn đề từng trói buộc tôi,
mọi điều tôi từng nghĩ là không bao giờ gỡ ra được,
bắt đầu được tháo cởi.
Khi nó bắt đầu được tháo cởi,
một sự bình an bắt đầu dâng lên từ trong tôi.
Niềm vui này không ai có thể lay chuyển được.
Nếu nó đến từ bên ngoài, thì khi hoàn cảnh thay đổi nó sẽ bị lay động.
Nhưng vì nó không đến từ bên ngoài,
nó ở trong nội tâm tôi,
nên không thể bị lung lay.
Niềm vui bắt đầu dâng lên từ bên trong.
Và rồi những gì tôi từng nắm chặt, giữ chặt,
bắt đầu được buông ra.
Thả xuống. Thả xuống.
Rồi niềm vui càng đến gần hơn.
Mọi thứ bắt đầu trở nên tốt đẹp hơn.
Khi sự thay đổi ấy bắt đầu xảy ra bên trong tôi,
thì lúc ấy điều đó bắt đầu tác động đến người ở bên cạnh tôi.
Đó là người từng cùng tôi vật lộn, cùng tôi chiến đấu.
Là người trước đây rất hợp với tôi,
tôi kéo một cái thì người đó cũng kéo một cái,
hai bên rất ăn khớp với nhau.
Nhưng bây giờ tôi buông ra.
Nhịp không còn khớp nữa.
Bắt đầu có sự khác biệt về mức độ.
Mọi thứ bắt đầu khác đi.
Ban đầu, vì tức giận nên có thể họ sẽ càng công kích hơn.
Nhưng rồi theo thời gian, họ bắt đầu cảm nhận được:
“Nội tâm của người này khác với nội tâm của mình.”
“Những gì có trong người ấy khác với những gì có trong mình.”
Rồi họ bắt đầu cảm thấy
chính mình thật thảm hại, thật nghèo nàn.
Họ bắt đầu nhận ra rằng
những vấn đề mà trước đây mình cho là nghiêm trọng như vậy
thật ra chẳng đáng gì cả.
Và rồi họ đến hỏi.
Họ hỏi về lý do của niềm hy vọng trong lòng mình.
Họ hỏi nguyên nhân của sự bình an ấy.
Rồi họ cũng gặp được Chúa phục sinh, là nguồn gốc của niềm hy vọng đó.
Và họ cũng bắt đầu mang một “tấm bảng tên”.
Đó chính là lịch sử của sự phục sinh.
Kết luận
Kết luận
Anh chị em yêu dấu,
hãy ghi nhớ rằng sự phục sinh không chỉ dừng lại là một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ,
mà là một quyền năng vượt lên trên chính sự kiện ấy.
Sự phục sinh không phải là câu chuyện của quá khứ,
mà là câu chuyện hiện tại,
đang xảy ra ngay lúc này giữa chúng ta.
Khi chúng ta hát ngợi khen,
khi cầu nguyện,
khi đọc Lời Chúa,
khi các tín hữu thông công,
khi thờ phượng,
hãy nhớ rằng câu chuyện ấy vẫn đang diễn ra.
Chúa phục sinh không phải là Đấng mà người ta chỉ kể rằng:
“Ngày xưa có ai đó đã từng gặp Ngài,”
nhưng là Đấng mà chính tôi hôm nay có thể gặp, và phải gặp.
Và khi gặp Chúa phục sinh,
hãy nhớ rằng chúng ta mang hai tấm bảng tên.
Một tấm bảng tên ở bên trong.
Nếu mở ra nhìn, sẽ thấy ghi:
“Người từng trải sự phục sinh.”
Người từng trải sự phục sinh!
Bên dưới có thể có dòng phụ đề:
“Shalom!”
“Quyền năng của sự sống!”
Dù bị lay chuyển thế nào cũng không bị lung lay.
Tại sao?
Vì điều đó ở bên trong.
Và còn một tấm bảng tên ở bên ngoài.
Đó là:
“Nhân chứng của sự phục sinh.”
“Người rao truyền sự phục sinh.”
Khi chúng ta bắt đầu mang hai tấm bảng tên ấy,
thì cuộc sống của chúng ta sẽ bước vào một tầng sống hoàn toàn khác với trước đây.
Đó chính là bản chất của câu chuyện phục sinh.
Anh chị em yêu dấu,
nguyện quyền năng phục sinh này
một lần nữa được hành động mới mẻ giữa anh chị em,
nhân danh Chúa, tôi chúc phước cho anh chị em.
Và với cảm xúc hiện tại, tôi tuyên bố rằng:
Ngay trong giây phút này, Chúa đã phục sinh vì chúng ta
và đang ở trong chúng ta.
“Peace be with you.”
Đó là lời chào Chúa dành cho chúng ta.
“Bình an cho các ngươi!”
Cầu nguyện
Cầu nguyện
“Ta để sự bình an lại cho các ngươi;
Ta ban sự bình an Ta cho các ngươi.
Ta cho các ngươi sự bình an không như thế gian cho.
Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi.”
Chúng con ghi nhớ tiếng phán của Chúa như vậy.
Cho đến nay, chúng con đã sống đi tìm bình an,
chỉ nương cậy nơi hơi thở hư không của chính mình,
nhưng không thể tìm thấy sự bình an thật.
Cảm tạ Chúa vì Ngài vượt trên thời gian và không gian,
đến ở giữa chúng con ngay lúc này,
và đổ sự bình an của Ngài trên chúng con.
Lạy Chúa của sự bình an, lạy Đức Chúa Trời toàn năng,
xin giúp chúng con trở nên người hoàn toàn phó thác chính mình cho Ngài.
Nhờ đó, xin mở tung mọi then cài của sự sợ hãi, bất an và nghi ngờ,
để chúng con được hưởng một đời sống bình an thật với Chúa.
Chúng con cầu nguyện
nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ, là Chúa của sự bình an.
A-men.
Nếu bạn muốn, tôi có thể làm tiếp cho bạn một bản tóm tắt cốt lõi 3 ý chính hoặc chuyển thành văn phong dễ hiểu hơn cho các bạn trẻ Việt Nam.
